TUYÊN DƯƠNG MỘT NHÀ TRÍ THỨC VIỆT NAM

posted Oct 16, 2009, 1:59 PM by Quốc-Anh Vương   [ updated Oct 16, 2009, 2:01 PM ]
Nhân dịp Lễ Thượng Thượng Thọ (100 năm) của Giáo-sư Nguyễn Khắc Kham, trong tư-cách Viện-trưởng đương-nhiệm Viện Việt Học và với trách-nhiệm tinh-thần của một người trong quá-khứ đã giữ trọng-trách về nền Văn Hóa và Giáo-dục của nước Việt Nam Cộng-Hòa, tôi trân trọng tuyên dương công-đức và sự-nghiệp của Giáo-sư Nguyễn Khắc Kham, tự Lãng Hồ, sinh năm Mậu Thân 1908 tại Hà Nội, Việt Nam.

Trong chốc lát, một nhân-viên của Viện Việt-Học sẽ đọc một bản tóm lược các học-vị, chức-tước trong – ngoài nước và một số công-trình nghiên cứu trước-tác của Giáo sư Nguyễn Khắc Kham. Thực là lớn lao và căn-bản, những đóng góp trong một cuộc đời không lúc nào không vui với sự làm sáng những điểm còn mù-mờ, tối-tăm hay khuyết nghi và thiếu bằng-chứng trong lịch-sử, ngôn-ngữ, văn-tự và văn-học sử của nước nhà cũng như vài nước lân-cận và nước Pháp, nước Mĩ.

Trong một trăm năm vừa qua, nền văn-hóa và văn-minh Việt Nam đã trải qua những cơn giông tố phũ-phàng nhất của lịch sử và đã có những lúc tưởng như bị cuốn đi để chìm vào một dĩ-vãng không đáy, tương đương với sự tử-vong như văn-hóa Lạc-Âu và văn-minh Inca, Aztec. Sau khi vua Hàm Nghi hai lần xuống chiếu Cần-Vương (1885), những cuộc võ trang lớn chống Pháp của Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám lần lượt bị tiêu diệt, Đế quốc Pháp đã hoàn toàn khống chế triều-đình bản xứ và khởi sự công-cuộc gọi là “khai hóa”, chủ yếu là xóa bỏ qui-mô nền văn-hóa giáo-dục cổ-truyền của Việt Nam. Thi Hương bị bãi bỏ (1915 và 1917), rồi thi Hội (1919), đồng thời vua Khải Định bị ép phải ra lệnh chấm dứt sự dạy chữ Hán để trong các trường kiểu mới còn lơ-thơ xơ-xác, chữ a b c lên ngôi độc tôn. Bút sắt thay bút lông, các vị túc nho thời ấy phải về làm những ông đồ làng chờ ngày Tết để đi bán chữ. Trẻ nhỏ, của những gia-đình tương-đối đủ ăn, nếu ở gần trường tỉnh, ngày ngày xách cái lọ mực tìm đến nghe tiếng trống trường, sắp hàng vào ngồi sát nhau trên những ghế dài để ê a học đánh vần. Kinh sách của thánh hiền ngày hôm qua, nay chỉ có những con mọt bò vào để gậm nhấm.

Nền tân-học chính thức bắt đầu từ lúc ấy. Một nền học giỏ giọt, hư nhiều hơn thực, ngăn chặn và đào thải từng bước từ sơ học, tiểu học lên, và cắt tay chặt đầu. Sự đàn áp và kìm giữ bởi cả hai chính quyền, thực dân và bản xứ, nhằm vào sự phá hủy mọi nhúc-nhích muốn ra thoát con đường hẹp có hàng rào dẫn đến sự thần phục mẫu-quốc.

Thiếu lãnh đạo, phản-ứng của quốc-dân hoang-mang, rời-rạc. Tất-nhiên cũng có những người đầu hàng nhưng tối đại đa số nép mình, nhịn nhục trong căm hờn và uất-ức, với một vài nhóm người bất khuất, rút vào bóng tối để tính chuyện vá trời. Thâm sâu hơn những sự-kiện nói ấy mà ai cũng thấy, là sự khởi phát hay thái-độ phản-kháng xây dựng trường kì mà triết-học đã làm sáng tỏ.

Hegel viết, trong Hiện-tượng học Tinh-thần (Phénoménologie de l’Esprit), rằng khi một nhóm người bị dìm vào đời sống nô lệ, đầy ải, nhục nhằn, sống cũng như chết, thì âm-thầm họ tìm cách để chống lại và thoát ra ngoài vòng. Sự sáng-tạo là lẽ sống của người nô-lệ và sẽ có một ngày họ làm ra lịch-sử. Triết-gia Kojeve đã giảng Hegel như thế trong những năm trước Thế chiến thứ Hai.

Sau Thế chiến thứ Nhất, Oswald Spengler, trong cuốn Sự suy-tàn của Tây-phương (Le Déclin de l’Occident) nêu lên giả-thuyết của một quá-trình giả-biến-hình lịch-sử (pseudo morphoise historique) trong đó một khu-vực văn-hóa lớn bị chinh phục và bị ép phải đồng hóa với kẻ chiến thắng, nhưng chỉ “hóa” ở bề mặt và chờ thời-cơ để vùng dậy, biến thể thành một văn-minh khác là tổng-hợp của hai nền văn-minh trong một ý-thức mới. Mặc dầu thuyết Spengler bị C. Dawson và A. I. Toynbee nghi ngờ trong sự thoát thai của văn-minh Ma-giáo (Mage, Magian, tức Tiền-Arap) từ văn-minh Hellen (Hellenisme) sau sự chinh-phục của Alexander Đại-Đế, nhưng tôi nhận tư-tưởng thâm-sâu này của Spengler trong đại cương để giảng giải sự phát khởi của văn-minh Việt Nam từ những di-sản của Lạc Âu sau mười thế-kỉ sống chui dưới cái bóng khổng-lồ của Hán-Ngô-Đường-Tống.

Trong gần một thế-kỉ Pháp-thuộc từ 1863 đến 1954, giới trẻ Việt Nam không ai bảo ai, đã lăn mình vào trong hai công-việc ấy: Học để giả biến hình, và suy tư sáng tạo mà mưu đồ sự phục hưng và tái sinh cho dân tộc. Những người đầu tiên, Cụ Nguyễn Khắc Kham thuộc thế-hệ ấy, cùng với những người như các Cụ Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, theo Tây-học sau khi đã được khai tâm vào nền Cổ-học, đã lợi dụng tất cả những kẽ hở nhỏ hẹp mà chế độ bảo-hộ còn để lại như những lỗ van an-ninh, để phá cái kế-hoạch làm rỗng cái tâm của dân-tộc Việt-Nam. Song song với phong-trào Đông Du và Duy Tân, nối tiếp tinh-thần Đông Kinh Nghĩa Thục, các Cụ xâm nhập nền học-chính bảo-hộ, mở trường tư, dạy học, làm báo, lập hội. Hội Khai Trí Tiến Đức ở bờ Hồ Hoàn Kiếm, không phải chỉ như Viện Hàn-lâm Pháp-quốc soạn-thảo một bộ Việt Nam Tự Điển cho văn học Việt Nam, còn nhằm vào việc phát huy quốc hồn quốc túy, một việc thiên nan vạn nan trong những năm đầu của thập niên 30, khi mười ba cái đầu của những nhà đại-ái-quốc của Việt Nam Quốc Dân Đảng mới bị rụng xuống bởi chính cái máy chém đã đưa Cách Mệnh Pháp lên đến độ cao nhất. Một con én chỉ là một dấu-hiệu rằng mùa xuân lại đã bắt đầu, tiếng con chim quyên chỉ là để báo rằng trời đất đã vào hè; bọn trẻ chúng tôi thời ấy (tôi mới lên bảy khi được trông thấy ảnh của mười ba cái đầu dán ở các cột đèn), mỗi người chúng tôi đi tìm học cho hết những gì một người có thể học được ở thế-giới bên ngoài với cái nguyện-vọng và cái ý chí là cứu nước cứu dân vì biết rằng không cần phải chiêu hồn nước, hồn nước vẫn còn, ở trong tâm của mỗi người Việt Nam, và trước hết trong những người đã từ bỏ cái lốt của giới SĨ của Thời xưa, để thành những nhà TRÍ-THỨC của đời nay. Cụ Nguyễn Khắc Kham là một trong những người ấy.

Hôm nay, nhân danh Viện Việt Học, tôi tuyên dương công đức và sự-nghiệp của Giáo sư Nguyễn Khắc Kham và vinh danh những người cùng thời với Cụ, đã hết lòng hết sức giữ được cái truyền-thống của hơn bốn nghìn năm lịch-sử Việt Nam. Sự tiến-bộ không có truyền-thống chỉ là sự theo đuôi ngoại-bang. Truyền thống là nền móng của văn hóa. Truyền-thống là sự bất-tử của quốc-gia. Truyền-thống là đất, là nước để cho sự sáng-tạo nẩy mầm và nở hoa.

TRẦN NGỌC NINH
Viện trưởng Viện Việt-Học
Comments