Tài Liệu‎ > ‎Biên Khảo‎ > ‎Khảo Luận‎ > ‎

Tư Tưởng Và Tư Tưởng Chính Trị Việt Nam

posted Feb 17, 2010, 10:57 AM by Quốc-Anh Vương

Trần Ngọc Ninh

“… Nước là dân và toàn dân phải như dây quấn thì mới tạo được hoà bình ở trời Nam:
làm ‎lịch sử là kiến tạo hoà bình vĩnh cửu, chứ không phải là gieo rắc thù hận và những mầm ‎mống của đấu tranh không cùng …”‎


Kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay có một dòng lịch sử Việt Nam trong đó đã cấu thành ‎nên một quốc dân Việt Nam, thì hiển nhiên rằng phải có một tư tưởng Việt Nam.‎

Tư tưởng Việt Nam là cái động lực lớn để giữ nước và yên dân. Tư tưởng Việt Nam là cái ‎sức mạnh chính yếu đã tạo ra sự đặc thù của con người và văn minh Việt Nam trên trái đất ‎của loài người. Tư tưởng Việt Nam là tư tưởng lãnh đạo lịch sử Việt Nam. Những ngọn ‎sóng của lịch sử thế giới nhiều khi đã tràn ngập cả cõi sống Việt Nam. ‎
Tư tưởng Việt Nam đã có những thời bị dìm xuống tận đáy sâu thẳm của những vực không ‎bờ tưởng rằng vĩnh cửu không còn một cái bóng, một tiếng vang, trong trí nhớ của người ta. ‎Nói đến tư tưởng Việt Nam trong những thời quốc vận suy mạt này, những người tự thổi ‎lên là kẻ sĩ hay trí thức chỉ biết nhìn nhau ngơ ngác, tưởng là nói chuyện quỷ thần. Có hay là ‎không có? Hình bóng ra sao? Ðạo Nho chăng? Hay là Ðạo Lão? Ðạo Phật? Ðạo Chúa? Tư ‎tưởng của Lư Thoa à? Chủ nghĩa của Các Mác chăng? Thưa là hoạt kê và cũng thực là bi đát. ‎Y như đứa trẻ mồ côi bị loài sói nuôi thì gọi sói là mẹ và coi sự đấu tranh sinh tồn của loài ‎sói là lẽ sống của chính mình. Sự mất bản thể và tha hoá có thể kéo dài cả thế kỷ, cả mười ‎thế kỷ tối tăm.‎

Nhưng rồi tư tưởng Việt Nam lại nổi lên, với những nguồn sinh lực mới, giàu hơn, mạnh ‎hơn, đẹp hơn, thực hơn, và trăm phần tươi sáng hơn. Nó châm lên những bó đuốc mới để ‎phá tan đêm tối mà đón ánh mặt trời buổi ban mai. Nó khơi lại trong mỗi trái tim cái tàn lửa ‎cũ cho bùng lên thành cục than hồng của lòng yêu nước vạn năng. Nó làm cho giang sơn đất ‎nước rực lên một mầu vinh quang và sình bùn cũng chứa đựng những hứa hẹn không cùng.‎

Nhưng các đế quốc lớn trong thiên hạ vẫn không ngớt thèm muốn cái nơi góc bể chân trời ‎mà tiền nhân chúng ta đã biến thành gấm vóc thi ca và gọi bằng cái tên yêu dấu là nước ta, ‎quê ta. Dầu là từ Bắc phương gần, Bắc phương xa, - nơi lòng người giá lạnh như băng tuyết ‎nghìn thu, hay từ phương tây bên bờ của đại dương mà mặt trời lặn xuống, kẻ xâm lăng, với ‎sự phản bội của những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Ðồng Khánh, Hồ Chí Minh, sợ cái tư ‎tưởng quật cường bất khuất của người Việt Nam yêu nước, đã bao lần đốt lửa để nấu chảy ‎trống đồng, thiêu hủy sách vở và đem xe, tàu đến để chở cái rừng tư tưởng Việt Nam về nơi ‎chính quốc mà chôn trong những phòng cấm của những tàng kinh các quốc gia của họ. ‎Nhưng cái hoá thân có hình hài sắc tướng với những chữ nghĩa trên trang giấy có thể bị đốt, ‎bị khoá, mà pháp thân của tư tưởng Việt Nam, không sống gửi vào vật chất, vẫn tự tại và tự ‎tồn, để chờ ngày quật khởi.‎

Trên khắp nước Việt Nam, không có một tấc đất nào không có máu thịt của ta trong những ‎kiếp trước. Không có một lá cây ngọn cỏ nào mà mỗi tế bào không có một phần của ta ngày ‎xưa. Tất cả cái phong cảnh của đồng ruộng núi sông trong nước là do khối óc và bàn tay của ‎tiền nhân xây đắp. Ðó là cái vùng trời và những con đường của văn hoá dân tộc. Và mỗi cái ‎thoáng nghĩ trong đầu óc của một người hiện ra trong một lời nói, một nụ cười hay một cái ‎nhúc nhích của một sợi cơ trong một bàn tay, hoặc phải nén xuống trong cõi lòng không đáy ‎của những ngàn năm đàn áp, cũng chứa đựng tất cả cái tư tưởng Việt Nam.‎

Vào đầu thế kỷ thứ 17 ở bên trời Âu, có nhà đại khoa học, đại văn hào là Blaise Pascal đã để ‎lại cho hậu thế những mảnh vụn của một cuốn sách mà người ta chắp nhặt lại, đặt cho một ‎cái đầu đề là Tư Tưởng (Pensées). Ðại để đi ngược lại với người đời thường nghĩ rằng hiểu ‎nhau rồi mới yêu nhau được, Pascal nói rằng có yêu Chúa thì mới hiểu được Chúa, và không ‎ngần ngại đi đến cuộc đánh cá lớn nhất trong lịch sử triết học Tây phương, là cứ đi lễ đi rồi ‎mới có thể mong được ban ân. Hành tiên, trí hậu.‎ ‎ ‎

Quốc tộ như đằng lạc… ‎ ‎ ‎

Tư tưởng Việt Nam cũng như Chúa của Pascal. Có đó, mà không có đó. Có đó cho người đã ‎yêu, đã thấy. Khi ấy thì có khắp mọi nơi, từ cái cực vi đến cái cực đại, từ trong một mô đất ‎bên bờ ruộng đến những con sông dài chở củi, lúa và tình người ; từ tiếng sáo diều trên cánh ‎đồng quê đến những lời hát vô tận của gái trai trong cuộc sống văn hiến, từ một hột cơm, ‎một cọng rau đến sự nghiệp bất diệt của một Nguyễn Trãi. Nhưng rõ ràng hiển nhiên là thế, ‎mà vẫn không có với những kẻ lạc loài.‎

Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không

Ngay cả trong những sách vở còn lọt qua mạng lưới của đế quốc và chó săn cũng còn để lại ‎chút ít di tích của tư tưởng đích thực Việt Nam. Cho những ai biết đọc, cho những ai đọc ‎với tình người Việt Nam, với tình nước Việt Nam. Trong thực tế thì cũng chẳng còn bao ‎nhiêu. Một vài mảnh giấy đã nhám lửa, vùi trong những đống tro tàn của những hoả đài văn ‎hoá. Nhưng quý làm sao ! Đẹp làm sao ! Và thâm trầm biết là chừng nào qua những huy ‎hoàng và đắng cay của lịch sử !‎

Tư tưởng chính trị nằm ở trong tư tưởng là cái ánh của tư tưởng để soi đường cho chính trị, ‎là cái kim chỉ nam để cứu nước, giữ nước và yên dân. Tất nhiên rằng đế quốc và phản quốc ‎ở bất cứ thời nào, cũng phải truy lùng và tiêu hủy tư tưởng chính trị của người dân yêu ‎nước, trước tất cả những gì khác, hữu hình hay vô hình. Binh Thư Yếu Lược của Trần Hưng ‎Ðạo đã tuyệt diệt, nhưng An Nam Chí Lược của Trần Ích Tắc vẫn còn cho tới ngày nay, là ‎vì thế.‎

Trong tâm khảm của chúng ta, không một người nào không tôn thờ cuốn sách mà không ‎một ai được trông thấy, cuốn Binh Thư đã đuổi giặc Nguyên ra ngoài bờ cõi. Và tuy cũng ‎còn có những sử gia vì sự bắt buộc của nghề nghiệp phải đọc cuốn sử vong bản về đất An ‎Nam, nhưng cũng không có một ai không khinh bỉ và thương hại cái văn tài trác tuyệt đã ‎lầm đường mà thành nô dịch cho đế quốc.‎

Tư tưởng chính trị bị đốt, bị chôn nhưng vẫn sống trong lòng người dân, ở đó nó âm ỉ cháy ‎mãi, nuôi dưỡng bởi cỏ hoa của đất nước, để vạn kiếp bí truyền cho con cháu đời sau. Và ‎khi nào cần thiết thì Binh Thư lại xuất hiện, Binh Thư không sách, Binh Thư không chữ, vì ‎đó mới là Binh Thư thực của tư tưởng Việt Nam: Binh Thư Yếu Lược là thời trời, là lợi đất, ‎là hoà người Việt Nam. Binh Thư sách đã bị ngọn lửa hung tàn của nhà Minh đốt cháy, ‎nhưng cuốn sách ấy còn dùng làm gì sau khi nó đã vẻ vang chiến thắng quân Nguyên ? Còn ‎lại là cái tin tưởng và cái tinh thần mà Lê Lợi và Nguyễn Trãi cùng với toàn dân đã thừa ‎hưởng của Binh Thư, với những chiến lược mới phải được sáng tạo ra để đánh đuổi một kẻ ‎thù mới, và lập nên nền đại định Bình Ngô.‎

Thế nhưng có còn một chút di tích gì của tư tưởng chính trị Việt Nam trong kinh sách ‎không ?‎

Một ngàn năm trước đây, vào khoảng thập niên từ 980 đến 990, không phải 70 năm của sự ‎thành lập Liên Xô, không phải 200 năm của sự ban hành hiến pháp Hoa Kỳ, cũng không ‎phải thiếu đầy 200 năm kỷ niệm cuộc cách mệnh Pháp, một ngàn năm trước đây, trong nền ‎độc lập mới còn chập chững của nước Ðại Việt ta, vua Lê Ðại Hành (ở ngôi từ 980 đến ‎‎1005) đã hỏi pháp sư Ðỗ Pháp Thuận (mất năm 991) về vận nước. Sư Pháp Thuận nói kệ để ‎trả lời vua; kệ rằng: ‎

Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh

Dịch là:‎

Vận nước như dây quấn
Trời Nam thấy Thái Bình
Vô vi ngự cung điện
Muôn xứ dứt chiến chinh


Ðây là sách lược chính trị để mở nước, sau mười thế kỷ Bắc thuộc. Triều đại nhà Ngô, mặc ‎dầu đã chiến thắng quân Nam Chiếu một cách lẫy lừng trên sông Bạch Ðằng, nhưng còn ‎lung lay và chưa có chính sự. Loạn mười hai sứ quân được dẹp bởi Ðinh Bộ Lĩnh, người ‎anh hùng thôn dã, nhưng nhà Ðinh còn phải nấu vạc dầu và nuôi cọp dữ để giữ vững ngôi ‎vua mà vẫn còn bị tiêu diệt bởi mũi dao của kẻ thích khách. Lê Ðại Hành lên ngôi trong sự ‎đàm tiếu của bọn anh em tay chân của Ðinh Bộ Lĩnh, phương Bắc thì nhà Tống đem quân ‎xuống để mưu đồ tái chiếm vùng đất thuộc cũ, miền Nam thì Chiêm Ba bắt sứ và khinh khi ‎nền độc lập còn thơ ấu của nước Việt Nam. Dầu đã là Thập Ðạo Tướng Quân Lê Hoàn, vua ‎Lê Ðại Hành cũng không khỏi có những bối rối lo âu. Sự mầu nhiệm kỳ diệu là vua Lê Ðại ‎Hành, một quân nhân vừa ra khỏi đêm tối của thời trung cổ bán khai, đã quay sang một nhà ‎sư học sĩ để hỏi việc nước. Và chúng ta được thấy sự khai sinh của tư tưởng chính trị Việt ‎Nam trong văn chương chữ nghĩa.‎

Quốc tộ như đằng lạc, vận nước như dây quấn. Những dây mây trong rừng, dây sắn dưới ‎ruộng, quấn quít chằng chịt vào nhau như dây đan, như dệt, dựa vào nhau mà đứng vững ‎trong gió bão, như trường thành. Ðó là cái hình ảnh của xã hội. Các nghề nghiệp lồng vào ‎nhau, các giai tầng tựa vào nhau. Sự liên đới và đại đoàn kết của toàn dân là nền tảng của sự ‎vững bền của vận nước. Người dân Việt Nam hiểu rõ điều ấy từ ngàn xưa. Tục ngữ ca dao ‎nối tiếp vào bốn câu kệ của Thiền Sư Pháp Thuận mà giải thích thêm. `Vì cây dây quấn`, ‎người ta nói. Những sợi mây xoắn vào nhau, móc vào nhau, khoác chặt lấy nhau là vì sự ‎sống còn và vững mạnh của cả cây mây. Cũng như toàn thể dân trong nước, sát cánh nhau ‎trong sự đấu tranh chung, là để giữ nước và xây dựng nước. Vì nước, tất cả các dây người ‎cũng quấn; tay khoác tay, sự hợp quần phải chặt chẽ, trận tuyến phải dầy đặc. Cây là gốc ‎của dây. Nếu người lãnh đạo hiểu được rằng `vận nước như dây quấn` thì người dân sẽ đáp ‎ứng lại rằng toàn dân đã sẵn sàng, không trừ một giới nào. Dân là đằng lạc, quốc tộ là do ‎dân.‎

Trong cái đằng lạc ấy, không phải là sự hỗn độn, không có sự tranh chấp. Dây già, dây non, ‎dây cao, dây thấp, thậm chí đến cả dây chết, dây sống cũng vẫn ôm nhau, quyện nhau, ‎không rời, không nhả, chia sẻ với nhau những nỗi khó khăn khổ cực của đời sống giữa rừng ‎già. Thế nhưng `rút dây động rừng `chỉ cần cho kẻ lạ thấy được một cái đầu mối nào đó để ‎rút ra một sợi mây thì cả rừng mây sẽ bị động và dầu là một cơ cấu thiên niên vạn đại cũng ‎có thể sụp đổ. Ðến thế kỷ thứ hai mươi này, người ta sẽ gọi đó là `cách mệnh`. Cách mệnh là ‎rút ra một sợi dây của đằng lạc và gieo cái ý thức rằng sợi dây cao đè sợi dây thấp, sợi dây ‎già buộc sợi dây non, và phải rút đi một sợi dây thì thiên hạ mới thái bình. Ðó không phải là ‎tư tưởng chính trị Việt Nam. Ðó là tư tưởng loạn nước loạn dân. Nhóm lên ngọn lửa đấu ‎tranh giai cấp là chính thức hoá nội loạn. Ðó là một tư tưởng ngoại xâm.‎

Tư tưởng lập quốc của Việt Nam nói ra rất rõ:‎

Vận nước như dây quấn
Trời Nam thấy thái bình

Hiểu rõ rằng nước là dân và toàn dân phải như dây quấn thì mới tạo được hoà bình ở trời ‎Nam: làm lịch sử là kiến tạo hoà bình vĩnh cửu, chứ không phải là gieo rắc thù hận và những ‎mầm mống của đấu tranh không cùng.‎‎  ‎ ‎

Vô vi cư điện các ‎

‎ ‎ Vô vi cư điện các. `Không làm` trong chốn quyền quý. Ðây là lời dạy vua quan trong sự cai ‎trị. Vô vi là không làm. Không phải sự vô vi của Lão Tử, cưỡi con lừa già ra khỏi cổng thành ‎để làm một Thái Thượng Lão Quân, ngồi nấu thuốc trường sinh bất lão. Mà là sự vô vi của ‎Ðạo Phật. Sư Pháp Thuận là người Thiền Môn, không là một đạo sĩ. Trong Ðạo Phật, vô vi ‎là sự không làm những cái không phải là Bát Chánh Ðạo, quan trọng hơn hết thẩy là sự ‎không làm hại, ahimsa, mà sau này Mahatma Gandhi coi là sự dũng cảm tối hậu và phương ‎châm chính trị tối cao. Trong Ðời, vô vi là không can thiệp, không bắt ép, không bó buộc, ‎không phá rối truyền thống, pháp luật, và tín ngưỡng mà nhân dân đã thuận theo trong tự do, ‎và cuối cùng, không mượn những cớ giả dối để đem quân đi chiếm đóng một nước khác. Ðó ‎là những lời dạy của chính Phật Như Lai, về dân nước Vajji. Vô vi là cái cực đối lập với ‎chuyên chế. Chính trị vô vi tôn trọng dân quyền và nhân quyền. Chính trị vô vi có một điều ‎kiện căn bản: nhân dân phải như dây quấn. Khi tất cả mọi giới đã ràng buộc lấy nhau trong ‎cái thế liên kết, liên đới, liên thuộc, thì hoà bình trong xã hội tự nhiên được thực hiện, mọi ‎sự cưỡng bách từ trên xuống trở thành vô nghĩa. Một xã hội yên vui không cần phải có một ‎Ðảng lãnh đạo và cũng chẳng phải mướn một nhà nước quản lý. Những cái đó là những phát ‎minh thời đại của những đỉnh cao trí tuệ, nhìn vào một cái sơ đồ của xã hội Âu Tây bệnh ‎hoạn. rồi cho rằng lịch sử của loài người chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp, và mọi xã hội đều ‎được cấu tạo với hai lớp người, kẻ bóc lột và người bị bóc lột. Hãy so sánh cái xã hội thô sơ ‎ấy với tư tưởng Việt Nam ở cuối thế kỷ thứ mười, trong câu kệ của Thiền Sư Pháp Thuận : ‎Vận nước như dây quấn : cơ cấu xã hội phức tạp là thế, chặt chẽ là thế, nhưng vẫn có tự do ‎vì một dây mây cá nhân vẫn có thể trồi từ lớp này lên lớp khác mà không cần phải có một kế ‎hoạch nào của nhà nước chỉ huy cả.‎

Bởi vậy cho nên không những có được hoà bình xã hội mà có được cả hoà bình trong loài ‎người.‎

Xứ xứ tức đao binh
‎(Mọi nước dứt chiến chinh)‎

Một bài kệ nhỏ, vỏn vẹn chỉ có bốn câu, đã gói ghém, với những hình ảnh tuyệt đẹp, từ cung ‎điện đến đời sống dân gian, từ vận nước đến cái thế lớn trong thiên hạ, và từ đầu đến cuối ‎thoát ra một hương sắc Thiền nhẹ nhàng thanh nhã, luyện cái thiên nhiên vào cái trừu tượng ‎rồi chuyển cái trừu tượng vào cái thực tế, và đồng thời, đem cái tư tưởng chính trị Việt Nam ‎diễn ra, sáng như trăng rằm, trong như ngọc bích, thực là kỳ tuyệt. Mở sử ra đọc lại, thấy ‎những lời của Trần Hưng Ðạo dặn dò vua trước khi chết, cũng là cái tinh thần ấy, nhưng ‎chân phương là chừng nào, khẩn thiết là chùng nào ; thực là lời của vị võ thần giữ nước, ‎nhìn thấy một chiến lược toàn diện và hiểu rằng nồng cốt của nước là dân. Xem đến Bình ‎Ngô Ðại Cáo của Lê Lợi - Nguyễn Trãi: vẫn là cái tư tưởng chính trị căn bản xưa, nhưng ‎phát triển ra lâm ly dũng mãnh, lúc như gió rít trong ngàn cây, lúc như sóng thần từ lưng trời ‎đổ xuống, từ đầu đến cuối chỉ vì nước vì dân, coi dân là nước và nước là dân, rồi cuối cùng ‎cũng chứng tỏ sự vô vi trong uy vũ để mua lấy một nền hoà bình vinh quang vĩnh cửu. Tư ‎tưởng chính trị Việt Nam có một truyền thống, cho đến lúc ấy chưa bao giờ bị thực sự gián ‎đoạn. Nhưng vài trăm năm sau đó thì rừng mây bắt đầu bị xẻ ra. Rồi vài chục năm gần đây, ‎người trong nước đã khởi sự rút mây. Tư tưởng chính trị Việt Nam bị ô nhiễm đến độ rằng ‎những bậc thức giả trong nước cũng không nhìn thấy nữa.‎

Nay là lúc chúng ta phải gạn đục khơi trong lại. Dòng tư tưởng của Việt Nam ở ngưỡng cửa ‎của thế kỷ thứ hai mươi mốt tất nhiên không thể vẫn là bốn câu thơ của sư Pháp Thuận. ‎Lịch sử Việt Nam cũng không dừng lại ở thời Lê Ðại Hành. Qua mỗi lần chuyển mình của ‎lịch sử, tư-tưởng Việt Nam đã thay đổi và còn phải luôn luôn thay đổi. Nhưng chúng ta ‎quyết không để cho một bọn ngụy trí thức, trong sự ngu tối và cuồng-loạn vọng-ngoại, xoá ‎bỏ đi bốn ngàn năm lịch sử tư tưởng của Việt Nam để thay thế bằng cái quái thai đầu Ðức ‎mình Nga gọi là chủ nghĩa Mác-Xít Lê-Nin-Nít.‎
Comments